Video

Hội thi Tin học khối CBCC, VC trẻ tỉnh Điện Biên lần thứ II năm 2017
Hội thi Tin học khối CBCC, VC trẻ tỉnh...
Sở TT&TT: Học tập và làm theo tư tưởng,...
Vì biên giới hoà bình hữu nghị (Tây...
Vì biên giới hoà bình hữu nghị (Tây...
Tuyên truyền phổ biến pháp luật cho nhân...

Liên kết Website

Thể lệ cuộc thi viết thư Quốc tế UPU lần thứ 47 năm 2018
tuyên truyền asean
Bảo vệ và chăm sóc trẻ em
VTCI Chương trình viễn thông công ích 2016-2020
Chương trình tuyên truyền bảo vệ chủ quyền quốc gia, biên giới
Danh mục chương trình tuyên truyền Đại hội Đảng XII
Triển lãm Hoàng Sa - Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý
Văn phòng thư điện tử eOffice
Số hóa truyền hình mặt đất
Chính phủ Việt Nam
Công báo

Thống kê truy cập

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập:

7475987

Trang nhất » Tin Tức » Tin tổng hợp

10 thành tựu kinh tế - xã hội nổi bật tỉnh Điện Biên nhiệm kỳ 2010 - 2015

Thứ tư - 28/10/2015 09:48
DIC- Năm năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức song Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc tỉnh Điện Biên phát huy truyền thống đoàn kết, nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức thực hiện thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đề ra. Ban Biên tập lựa chọn, đề xuất 10 thành tựu kinh tế - xã hội nổi bật nhất trong nhiệm kỳ qua.
.

.

     1. Kinh tế duy trì tăng trưởng khá. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân 5 năm (2010-2015) ước đạt 9,11%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Năm 2015: Khu vực nông, lâm nghiệp 23,1% giảm 6,76%; công nghiệp - xây dựng 31,35% tăng 1,26%; dịch vụ 45,55%, tăng 5,48% so với năm 2010. Bình quân GRDP đầu người năm 2015, ước đạt 23,6 triệu VNĐ (1.130 USD), tăng 89,43% so với năm 2010.
 
     2. Nông nghiệp đã phát huy, khai thác được tiềm năng, thế mạnh về đất đai, mặt nước, kinh nghiệm sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực. Tổng sản lượng lương thực ước đạt 241,7 ngàn tấn, tăng 8,61% so với năm 2010; lương thực bình quân 446 kg/người (vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội XII). Tốc độ tăng trưởng đàn gia súc bình quân ước đạt 5,78%/năm. Chăn nuôi hộ gia đình được chú trọng; có sự đổi mới phương pháp chăn nuôi, chú trọng kỹ thuật sản xuất giống và tăng cường kiểm soát phòng, chống dịch bệnh. Nuôi trồng thủy sản phát triển khá (sản lượng tăng bình quân ước đạt 9,87%/năm).
 
     3. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá; bước đầu khai thác được tiềm năng, thế mạnh. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2015 (giá so sánh 2010) ước đạt 2.518 tỷ đồng, tăng 1,83 lần so với năm 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân 12,8%/năm. 
 
     4. Mạng lưới hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển nhanh, chất lượng phục vụ nâng lên. Dịch vụ vận tải, bưu chính, viễn thông phát triển khá nhanh; chú trọng đầu tư, nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ chính trị và nhu cầu của nhân dân. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.500 tỷ đồng, tăng bình quân 17,67%/năm, gấp 2,26 lần so với năm 2010. Hoạt động xuất nhập khẩu được duy trì. Giá trị xuất nhập khẩu ước đạt 36 triệu USD, tăng bình quân 22,04%/năm, gấp 2,7 lần so với năm 2010, trong đó : xuất khẩu 27 triệu USD, nhập khẩu 9 triệu USD. 
 
     5. Thu ngân sách trên địa bàn năm 2015, ước đạt 750 tỷ đồng, gấp 1,7 lần so với năm 2010; tổng thu ngân sách 6.300 tỷ đồng, gấp 2,6 lần so với năm 2010. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là giao thông có nhiều cải thiện; bộ mặt đô thị, nhiều vùng dân cư nông thôn đổi thay đáng kể. Có 130/130 xã, phường, thị trấn có đường ô tô đến trung tâm xã, trong đó 116/130 xã, phường, thị trấn đi lại được quanh năm. Huy động khoảng 33.734 tỷ đồng để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội (vượt 12,5% mục tiêu Nghị quyết Đại hội XII). 
 
     6. Đẩy mạnh phát triển hạ tầng lưới điện và cung cấp sạch. 126/130 xã, phường thị trấn có điện lưới quốc gia; tỷ lệ hộ dân sử dụng điện sinh hoạt đạt 83,4%. Tỷ lệ dân khu vực đô thị cấp nước sạch đạt 97,49%, tăng 3,65%; khu vực nông thôn được cấp nước hợp vệ sinh đạt 61,18%, tăng 7,23% so với năm 2010. Hạ tầng thông tin liên lạc phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu thông tin, giải trí của nhân dân. Mật độ thuê bao điện thoại đạt 73,7 thuê bao/100 dân (tăng 16,23 máy/100 dân). Số thuê bao internet trung bình 100 dân là 2,8 thuê bao/100 dân. 112/130 xã, phường, thị trấn kết nối internet băng thông rộng. 83% hộ gia đình nghe, xem được đài phát thanh, truyền hình địa phương (tăng 10% so với năm 2010).
 
     7. Giáo dục và đào tạo phát triển nhanh về quy mô trường lớp và nâng cao chất lượng. Cơ sở vật chất, trang thiết bị được đầu tư, từng bước đáp ứng yêu cầu dạy và học. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, chất lượng nâng lên. 100% cán bộ quản lý, 98,7% giáo viên mầm non và phổ thông có trình độ chuyên môn đạt chuẩn; tỷ lệ giáo viên có trình độ chuẩn tăng 2% so với năm 2010. Tỷ lệ huy động học sinh tới trường, lên lớp, chuyển cấp, tốt nghiệp hằng năm đạt và vượt kế hoạch. Tỉnh đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2; duy trì đạt chuẩn giáo dục trung học cơ sở. Có 48,07% trường mầm non và phổ thông đạt chuẩn quốc gia. 
 
     8. Y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân được tập trung chỉ đạo, thực hiện. Mạng lưới y tế phát triển từ tỉnh đến cơ sở. Đội ngũ cán bộ y tế được đào tạo nâng cao trình độ, nhất là bác sỹ, dược sỹ có trình độ sau đại học; ước đạt 10,8 bác sĩ/vạn dân; 60% số xã có bác sĩ; 100% thôn bản có nhân viên y tế; 25% số xã, phường, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã. Thực hiện tốt công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình. Tốc độ tăng dân số hằng năm 1,59%; giảm tỷ lệ sinh 0,18%o/năm. Tỷ suất sinh giảm từ 2,61 con năm 2011 xuống 2,1 con năm 2015. 
 
     9. Đào tạo nghề, gắn với giải quyết việc làm được triển khai tích cực. Đã giải quyết việc làm mới khoảng 42.590 lao động (trong đó xuất khẩu lao động 460 người), bình quân 8.518 lao động/năm. Đào tạo nghề khoảng 40 ngàn lao động (bình quân 8.000 lao động/năm). Nâng tỷ lệ lao động được đào tạo từ 29,5% năm 2010 lên 43,77% năm 2015, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề 24,37%. 
 
     10. Đã triển khai đồng bộ và tập trung đầu tư nguồn lực cho giảm nghèo nhanh và bền vững. Tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cải thiện điều kiện sản xuất, nâng cao đời sống, tạo việc làm cho người lao động. Bình quân mỗi năm tỷ lệ hộ nghèo giảm 4,4% (riêng các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ giảm 5,88%/năm); tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 50,01% năm 2010 xuống còn 28,01% năm 2015, số hộ thoát nghèo 18.844 hộ./.

Thanh Nam (tổng hợp)

Xem tiếp...

Tin đã đăng